Luật Sư
Tội phạm hình sự
Luật sư bảo vệ

Phụ nữ có phạm tội hiếp dâm?

Share this post
FaceBook  Twitter  

Xưa nay chỉ nghe nói đàn ông giao cấu với trẻ vị thành niên là có tội. Vậy tôi muốn hỏi một phụ nữ ép một thiếu niên nam quan hệ tình dục thì có phạm tội không? Người biết việc này không báo cơ quan chức năng có bị xử lý không? Hoặc nếu được báo mà đánh giá là "chuyện vớ vẩn" thì cơ quan chức năng đó có làm sai không? 

 

Phụ nữ cũng có thể phạm tội hiếp dâm

1) Phụ nữ có phải là chủ thể của tội hiếp dâm?
Theo Bộ Luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại Chương XII, quy định “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” thì không có quy định về loại tội phạm nào phân biệt chủ thể phạm tội phải là nam giới, bị hại phải là nữ giới (trong một số trường hợp, nạn nhân là phụ nữ, trẻ em chỉ là tình tiết tăng nặng khi định tội danh). Trước đến nay, nhiều người có thói quen nghĩ rằng những tội xâm phạm nhân phẩm con người như hiếp dâm, cưỡng dâm, dâm ô … thì người bị hại phải là nữ giới, chủ thể phạm tội phải là nam giới. Tuy nhiên, đó chỉ là cách nhìn nhận chịu ảnh hưởng của văn hóa Á đông, và dựa vào đặc tính sinh học của người nam giới là có sức khỏe, thường là phía chủ động trong vấn đề tình dục … Trong khi đó, ở nhiều nước phương Tây, việc Tòa án đem ra xét xử các bị cáo là nữ giới về loại tội danh vừa nêu là điều bình thường (đặc biệt có rất nhiều vụ án liên quan đến việc cô giáo quan hệ tình dục với học sinh nam đã được đưa ra xét xử ở nhiều quốc gia).
Trở lại với quy định của pháp luật Việt Nam, khoản 1, Điều 111, BLHS, quy định về tội hiếp dâm như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Như đã viện dẫn, ở phần giả định của điều luật mô tả “người nào”, có nghĩa là không phân biệt giới tính, chỉ cần người đó có hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ”, thì bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về mặt lý luận về định tôi danh, khả năng để phụ nữ trở thành chủ thể của tội hiếp dâm có thể được đặt ra trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, theo khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống, việc phụ nữ dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nam giới để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của họ là điều khó có thể xảy ra. Trong thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, hiện nay hành vi dùng “thủ đoạn khác” để giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ có thể là hành vi được thực hiện bởi nữ giới. Ví dụ: cho uống thuốc kích dục, v.v… Do đó, không thể loại trừ khả năng này trên thực tế, và hành vi người nữ giới dùng “thủ đoạn khác” giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của nạn nhân thì có thể coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.
Thứ hai, phụ nữ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trong trường hợp đồng phạm. Dù không phải là người thực hành (chủ thể phổ biến là nam giới), thì phụ nữ cũng có thể bị coi là phạm tội nếu có hành vi cố ý cùng thực hiện tội hiếp dâm với người thực hành. Cụ thể, phụ nữ có thể là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức (khoản 1, khoản 2, Điều 20 BLHS)
Như vậy, có thể khẳng định phụ nữ cũng có thể phạm tội hiếp dâm quy định tại Điều 111, BLHS.
2) Phụ nữ ép thiếu niên nam quan hệ tình dục phạm tội hay không?
Do thông tin của bạn Hoàng Hiệp cung cấp chưa được cụ thể (về mức độ “ép” buộc đối với người thiếu niên nam và độ tuổi cụ thể của người này), nên trong trường hợp bạn nêu, người phụ nữ “ép” một thiếu niên nam quan hệ tình dục trái với ý muốn của họ thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị coi là có hành vi phạm tội thuộc các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, phạm tội hiếp dâm và hiếp dâm trẻ em theo Điều 111, 112 BLHS. Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, nếu người phụ nữ trong trường hợp này “ép” nạn nhân bằng cách dùng “thủ đoạn khác” để giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ thì bị coi là tội phạm và chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 111, BLHS. Nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì người có hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo đoạn 1, khoản 4, Điều 111, BLHS có khung hình phạt từ năm năm đến mười năm tù. Nếu nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm (khoản 1, Điều 112, “Tội hiếp dâm trẻ em”). Ngoài ra, nếu người phụ nữ dù không có hành vi ép buộc nhưng giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi thì cũng bị coi là phạm tội hiếp dâm trẻ em. Cụ thể, khoản 4, Điều 112, BLHS, quy định “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Thứ hai, phạm tội cưỡng dâm và cưỡng dâm trẻ em theo Điều 113, 114, BLHS. Khoản 1, Điều 113, BLHS về “Tội cưỡng dâm”, quy định “người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc vào mình hoặc người đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu, thì bị …”. Nếu hành vi “ép” của người phụ nữ thể hiện việc dùng thủ đoạn khiến cho người nam giới (là người lệ thuộc vào mình) hoặc người nam giới đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu thì bị coi là tội phạm theo quy định nêu trên. Nạn nhân là người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì người có hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo đoạn 1, khoản 4, Điều 113, BLHS có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. Nếu nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm (khoản 1, Điều 114, “Tội cưỡng dâm trẻ em”).
Thứ ba, phạm tội giao cấu với trẻ em theo Điều 115, BLHS. Người phụ nữ đã thành niên dù không “ép” thì nếu có hành vi giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 115, BLHS có khung hình phạt từ một năm đến năm năm tù.
3) Trách nhiệm của người biết rõ hành vi phạm tội
Theo quy định tại Điều 314, thì “Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của BLHS (trong đó có các tội phạm được chúng tội nêu ở trên) đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.” Tuy nhiên, theo khoản 2, Điều 314 thì “Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội” chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội liên quan đến hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm nêu trên nhưng có khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (tội đặc biệt nghiêm trọng).
Đồng thời, theo khoản 3, Điều 314, BLHS thì “Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt”.

Các bài mới về Hình sự - Hành Chính

Liên hệ Văn Phòng

Văn phòng Luật sư Phan Hùng

Đc 1: 46 Trần Nhân Tông, Tp. Phan Rang, Ninh Thuận

Đc 2: 344/6 Nguyễn Duy Dương, P.9, Q.10, Tp.Hồ Chí Minh

ĐT: 0909385197

Email: tvpl@tuvanphapluat.com

Dịch vụ pháp lý

  

 

 

 

Liên kết đối tác

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ PHAN HÙNG
Địa chỉ trụ sở: 46 Trần Nhân Tông, Phường Thanh Sơn, Tp. Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
Tại Tp. Hồ Chí Minh: 344/6 Nguyễn Duy Dương, Phường 9, Quận 10
Điện thoại: 0909385197 Fax: 08. 38502199
Email: tvpl@tuvanphapluat.com